Hiển thị các bài đăng có nhãn QUÁN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn QUÁN VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Tấm Lòng Của Một Đứa Trẻ Mồ Côi Tật Nguyện

Năm 2008 tôi trở về Việt Nam để thăm mẹ đã già yếu. Quê tôi là một xã hẻo lánh thuộc huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp. Trên đường từ thị xã Sa Đéc về quê cách nhà mẹ tôi độ nửa cây số, bên trái đường có một ngôi nhà còn thật mới, to, đẹp, bề thế, thiết kế theo lối kiến trúc Âu Mỹ. Tôi nói đùa với bà xã:
- Nhà nầy chắc của đại gia nào đó ở đâu về cất cho cô bồ nhí. Anh biết cả ấp nầy dân chúng đều sống bằng nghề nông. Sau 30.4.75 tất cả ruộng đều bị qui hoạch làm tập đoàn, tập thể. Sau đó chính quyền có trả lại cho nông dân, nhưng không ai còn ruộng nhiều như ngày xưa nữa, nhất là thời nầy làm ruộng đủ sống là may lắm rồi, làm gì có tiền để xây nổi cái nhà to đồ sộ như thế nầy.

Về đến nhà, sau một vài phút mừng vui sum họp, tôi hỏi đứa em trai:
 - Ở đầu xóm trong có đại gia nào mới xuất hiện cất ngôi nhà vừa to vừa đẹp quá vậy?
 - Nhà của chị Tư Thung, vừa mới xây xong tháng rồi, nghe nói trên hai tỷ đấy.   
       - Chị Tư nghèo nhất ấp, chắc trúng số?
 - Anh có nhớ thằng Tèo, con trai đầu lòng của chị Tư không? Nó bị tật bẩm sinh, khi
mới sinh ra hai chân teo nhỏ và dị dạng cho tới lớn vẫn đi không được, phải ngồi xe lăn. Khi nó được 3 tuổi, vừa bị tật vừa bị bệnh hoạn hoài, èo ọt khó nuôi, gia cảnh chị Tư lại quá nghèo nên phải đành đem cho viện mồ côi của nhà thờ Công Giáo Sa Đéc. Khi miền Nam Việt Nam hấp hối sắp lọt vào tay cộng sản miền Bắc, có một số trẻ em mồ côi may mắn được di tản sang Mỹ trong đó có Tèo. Đến Mỹ, Tèo được gia đình một Bác sĩ gốc Ba Lan nhận làm con nuôi. Vợ chồng người Bác sĩ nầy quá tốt và nhân hậu, coi Tèo như con ruột, rất hết lòng thương yêu, lo lắng, chăm sóc, dạy dỗ, và cho ăn học đến nơi đến chốn.
Khi Tèo được 10 tuổi, một hôm vợ chồng ông gọi nó vào phòng riêng, vừa để tâm tình, vừa để khuyên dạy một số điều cần thiết chuẩn bị cho tương lai:” Như con đã biết, ba mẹ là người Mỹ gốc Ba Lan. Nước Mỹ là một quốc gia quá lý tưởng, giàu, đẹp, tự do, văn minh, nhất là luôn luôn tạo cơ hội cho tất cả mọi người dân, thành công hay thất bại, tươi sáng hay đen tối đều cho chính bản thân ta mà thôi. Ba mẹ cũng từ bàn tay trắng, nước Mỹ đã giúp ba gần như có được tất cả. Kể cả con, ba mẹ có 2 trai và 2 gái đều ngoan, dễ thương, học giỏi. Ba mẹ lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện. Thế mà không biết tại sao, thỉnh thoảng nằm suy tư, ba vẫn cảm thấy thiếu thiếu một cái gì đó, vẫn còn nhớ nhớ về đất nước Ba Lan, vẫn còn thương thương  con người Ba Lan. Vài năm gần đây tự dưng trong lòng ba cảm thấy nao nao muốn về thăm lại Ba Lan quê hương yêu dấu của ba. Bây giờ tất cả đều thay đổi, tất cả đều xa lạ, nhưng khi về lại, vừa đặt chân chạm đất Ba Lan, ba có cái cảm giác thật thân quen và dễ chịu. Ba thở ra từ từ cho hết cái không khí của Mỹ, rồi hít vô từ từ cho đầy ấp cái không khí Ba Lan, tâm hồn ba cảm thấy rạo rực và lâng lâng hạnh phúc.
           Do đó, ba đề nghị với con, nên đi học thêm tiếng Việt, thứ nhứt là biết được nhiều ngôn ngữ càng có lợi cho cuộc đời, thứ hai là nếu đến một lúc nào đó, con có cái cảm giác giống như ba, cảm thấy nhớ nhớ về đất nước Việt Nam, về ba mẹ, về những người thân yêu thì con nên trở về thăm lại Việt Nam của con. Biết nói tiếng Việt mới giúp cho con có nhiều cơ hội để truy tìm nguồn cội của mình. Với tất cả tấm lòng biết đâu có một phép lạ mầu nhiệm nào đó giúp cho con tìm lại được ba mẹ và các em.
          Giờ phúc hạnh ngộ mà không nói chuyện được với nhau, không hiểu nhau thì thật là bất hạnh và đau khổ. Con phải cố gắng học hành cho giỏi để tốt nghiệp Đại học, có công ăn việc làm vững chắc, có dư giả tiền bạc con mới có điều kiện thực hiện những gì cần thiết cho đời mình. Ráng đi, ba sẽ cho con biết tất cả chi tiết về lai lịch của con. Ba hy vọng sẽ có một ngày đẹp trời nào đó, máu Việt Nam của con sẽ nóng lên, hồn Việt Nam của con sẽ bừng dậy thôi thúc con quay về. Ba mẹ lúc nào cũng thương yêu và hết
lòng ủng hộ cho con.”
           Nhờ có cha mẹ nuôi quá tốt, luôn luôn khuyến khích và yểm trợ, Tèo học rất giỏi, tốt nghiệp Đại học ngành computer, làm việc cho ngân hàng. Năm 2004, nó nhờ một người bạn cùng về Việt Nam 3 tuần lễ, tìm đến nhà thờ Công giáo Sa Đéc, nơi mà có viện mồ côi đã nuôi nó đến 5 tuổi trước khi được di tản sang Mỹ. Nhà thờ cũ kỹ vẫn còn đó, nhưng quí Cha, quí Sơ đều thay đổi, đều xa lạ nên không ai biết gì về nó. Nó thật buồn và thất vọng trở về Mỹ.
           Không nản, năm 2005, nó và người bạn lại về Việt Nam 3 tuần lễ nữa, một mặt nhờ báo chí đăng tìm hộ, một mặt về tận nhà thờ Sa Đéc tìm những người già cả xung quanh hỏi thăm nhưng cũng thất vọng, buồn và đành lặng lẽ trở về Mỹ.
           Có lẽ có một sự linh thiêng mầu nhiệm nào đó thôi thúc, nó và người bạn quyết tâm trở về Việt Nam lần thứ ba, lần nầy ở lại một tháng thay vì 3 tuần như hai lần trước. Sau khi nhờ tất cả các tờ báo ở Saigon đăng tìm giúp, nó bay về thị xã Sa Đéc mướn khách sạn ở, mỗi ngày đều đến nhà thờ cầu nguyện, sau đó đi lang thang từ xóm nầy đến xóm khác để hy vọng gặp một vài bô lão biết nhiều về viện mồ côi trước năm 1975.
            Ơn trên không phụ kẻ có lòng, Tèo về Sa Đéc được hơn một tuần thì tình cờ gặp anh Bảy Đức. Anh Đức đi nuôi con bị bệnh đang nằm điều trị tại bệnh viện Sa Đéc, nhà thờ nằm đối diện bên kia đường gần đó. Là người đạo Công giáo, thỉnh thoảng anh sang nhà thờ để cầu nguyện nên gặp được Tèo. Nhà anh ở cạnh nhà chị Tư Thung, cũng là bạn chòm xóm lâu năm nên biết rất rõ trước năm 1975 về gia cảnh của chị.
             Là người cẩn thận, anh Đức không vội nói với Tèo điều gì cả, yên lặng về quê báo cho chị Thung biết, hiện ở nhà thờ Sa Đéc  có một Việt kiều Mỹ tên Nam, bị tật bẩm sinh hai chân, ngồi xe lăn, giống trường hợp của cháu Tèo con chị, đã về Sa Đéc nhiều lần để cố tìm cho được cha mẹ. Anh khuyên chị nên đi gặp Nam biết đâu  sẽ gặp lại Tèo, nhưng chị từ chối và bảo:
           - Không nuôi nỗi một đứa con tật nguyện, phải đem cho viện mồ côi, tôi cảm thấy xấu hổ và đáng trách lắm, ba nó đã mất, bây giờ nó là Việt kiều, dù nó đúng là con của tôi, tôi cũng không đủ tư cách nhìn mặt nó. Suốt cuộc đời nầy lương tâm tôi luôn luôn ray rứt và đau khổ vì đã bỏ nó. Tôi xin cam chịu về những hình phạt nầy.
            Bà con hàng xóm hay tin kéo đến đều khuyên chị nên đi gặp cháu Nam. Một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi không nuôi dưỡng, thế mà nó không trách, không oán, không hận. Xa lìa cha mẹ từ lúc 3 tuổi, không thể hình dung nỗi cha mẹ là ai, ra sao, cũng không hề nhớ một kỷ niệm tình cảm yêu thương nào của cha mẹ dành cho nó, thế mà nó vẫn không quên cội nguồn, vẫn biết trân trọng, vẫn biết yêu thương đấng sinh thành. Nếu không có tấm lòng hằng đêm ước mong và tha thiết muốn được gặp lại cha mẹ mình thì tội gì nó phải mất 3 lần trở lại Việt Nam để lặn lội, để tìm kiếm, vừa tốn kém vừa trăm bề vất vả và khó khăn, nhất là với một người tật nguyền phải đi bằng xe lăn. Đây là một đứa con vĩ đại. Đây là một đứa con tuyệt vời. Chắc chắn là nó rất hiểu, rất thương, rất thông cảm cho hoàn cảnh của chị. Chị hãy sung sướng và hãnh diện vì được sinh ra nó. Nghìn trùng xa cách, cũng có thể coi như ngàn năm cách biệt, thế mà cháu vẫn quay về tìm mẹ. Chúng tôi nghĩ, đây là ơn phước Thiên Chúa ban cho chị và gia đình, dưới trần gian nầy có một món quà nào quí giá hơn, chị hãy đón nhận và cám ơn Thiên Chúa.
            Nghe mọi người nói, nghe mọi người khuyên, chị Tư chỉ biết ngồi bó gối khóc nức nở thật bi thương. Khi cơn khóc diệu lại, chị nói trong nghẹn ngào:
            - Nếu sau lưng của nó, bên vai trái có một cái bớt đen to bằng đồng xu thì nó chính là con của tôi. Hiện tôi đang bị xúc động quá và nhớ nó lắm, gặp lại nó chắc tôi chết mất.
            Thấy vậy, anh Đức vội trở ra thị xã Sa Đéc, đến nhà thờ tìm cháu Nam, thuật lại những điều chị Tư nói. Đúng là Tèo ngày xưa của mẹ Thung. Nó quì ngay xuống trước mặt tượng đức Chúa Trời làm dấu thánh giá, cầu nguyện, nghẹn ngào.
            Quên cả chào từ giả mọi người, nó vội vã theo anh Đức chạy bay về quê để gặp lại mẹ và các em. Sau trên ba mươi năm mới gặp lại, gần như chưa hề quen biết, gần như hai người xa lạ, nhưng hình như có một sợi dây thiêng liêng mầu nhiệm ràng buộc tình máu mủ, vừa thấy nhau là tình cảm mẹ con ngập lòng, chỉ biết xúc động, chỉ biết nghẹn ngào, chỉ biết ôm nhau rồi khóc mặc cho bà con chòm xóm đến vây quanh để chúc mừng và thăm hỏi.
              Tèo ở lại nhà mẹ thêm 3 tuần, đưa mẹ và các em đi du lịch Saigon, Đà Lạt, Nha Trang. Và đề nghị với mẹ, muốn mua cho mẹ một căn nhà ở Saigon để mẹ và các em ở, sẽ tìm cách tạo điều kiện về công ăn việc làm cho các em, dù sao cũng tốt hơn ở quê nhiều. Nhưng chị Tư không bằng lòng. Chị bảo, mẹ đã quen sống ở đồng ruộng, xung quanh có bà con chòm xóm thân quen như người nhà, làm sao mà mẹ bỏ nơi chôn nhau cắt rún mà đi cho được. Vì nghèo, các em con đều dốt chỉ biết làm ruộng, làm rẩy. Saigon không phải là đất thích hợp cho gia đình mình sống.
               Năm 2007 cháu Tèo trở về Việt Nam mua một ít ruộng cho các em và cất một ngôi nhà thật đẹp, có thể nói là đẹp nhất trong xã nầy để cho mẹ dưỡng già, rất tiếc là người cha đã mất sớm không hưởng được phước của đứa con yêu dấu, bị tật nguyền nhưng có tấm lòng thật vĩ đại và hiếu thảo.
                Ngày cúng giổ cho ba tôi, trong bàn tiệc, tôi gợi lại và ca tụng con người tuyệt vời của cháu Tèo. Anh Năm Cần ngồi cùng bàn là bạn hàng xóm của gia đình chúng tôi, hỏi tôi:
              - Anh Hai ở Mỹ, không biết thằng Mỹ nó dạy như thế nào mà một đứa trẻ mồ côi tật nguyền như cháu Tèo thành một Kỹ sư tài giỏi, hữu dụng cho gia đình và xã hội, nhất là vẫn gìn giữ được phẩm hạnh hiếm có của  một đứa con chí hiếu mặc dù bị cha mẹ bỏ rơi không nuôi dưỡng. Trong khi ở quê mình ngày nay con em  bắt đầu đi học từ mẫu giáo cho đến Trung học, Đại học đều phải học mười điều dạy, trăm điều răn để noi gương...thế mà không biết tại sao thanh niên nam nữ hư hỏng đầy rẫy. Đi ra khỏi nhà một chút thì thấy dài dài nhà trọ, quán beer  ôm, quán café võng…là những hang ổ sa đoạ trá hình. Đó là chưa nói đến nạn trộm cướp, giựt dọc, móc túi, băng đảng quậy phá, xì ke ma tuý…
             -Tôi không sống ở Mỹ nên không rành lắm, hơn nữa tôi là người thua cuộc, đã từng bỏ của chạy lấy người, xin lỗi, tôi không dám có ý kiến gì hết. Việc nầy anh nên hỏi những người hiện đang có chức có quyền nhất là những nhà cách mạng lảo thành mới có đủ tư cách trả lời, phải không?
               - Anh Hai lâu lâu mới về, chắc anh không biết nhiều về bao điều tệ hại, nhất là tình trạng đạo đức suy đồi, con chém cha, thầy hảm hiếp trò, anh em đâm nhau chỉ vì một vài công đất. Con gái chen lấn nhau đi tìm chồng Đài Loan, Đại Hàn,…bất chấp tương lai sẽ đi về đâu. Con trai thì tìm mọi cách xin đi lao động nước ngoài. Thanh niên là tương lai của đất nước, nhưng buồn thay, một số thì hư hỏng, một số thì muốn thoát ra khỏi nước. Hình như họ cảm thấy được ra khỏi nước mới là điều mơ ước, mới là đỉnh điểm tương lai. Như anh đã biết, gia đình tôi có thế, làm ăn được và khá giả, nhưng khi nghĩ đến bối cảnh của quê hương mình, tôi cảm thấy luôn ưu tư và phiền muộn. Tương lai của đất nước mình sẽ ra sao, sẽ về đâu?
              Tiệc tàn, mọi người đều ra về hết. Chiều xuống ở đồng quê thật êm đềm lặng lẽ. Tôi ngồi một mình nhìn ra bóng tối mông lung, nghĩ đến Tèo, nghĩ đến những điều anh Năm Cần nói, nghĩ đến đời sống của người dân Uc, rồi nhìn lại đời sống của người dân mình, tự dưng lòng tôi cảm thấy thật buồn, buồn vô cùng.
               Thượng Đế ơi, một trăm năm nữa Ngài có thương xót mà ban cho DÂN TỘC VIỆT NAM được hưởng ơn phước như người dân UC hiện nay không!?
                          
 PHƯƠNG ĐÔNG.             



Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

"Ngoại ơi con vịt chết chìm!"








 
(Tùy bút Nguyễn Hà)


Mỗi lần nhớ nhà, tôi cũng hay nhớ lại 2 câu ca dao mà mẹ tôi thuờng ru tôi ngủ khi tôi còn bé:

Má ơi con vịt chết chìm
Thò tay con vớt, cá kìm cắn tay


Sau này lớn lên, tôi hỏi thì mẹ tôi kể lại là thuở sinh tiền, ngoại tôi cũng hay ru mẹ tôi ngủ bằng câu ca dao đó.

Đã lâu, thật lâu rồi, tôi không về thăm nhà; nhưng khi thấy hình ảnh những giòng sông quê hiền hòa, tôi không khỏi bồi hồi nhớ lại mẹ tôi, ngoại tôi và cả một khung trời quê huơng yêu dấu.

Tôi nhớ lại lúc còn nhỏ, vào những tháng bãi trường, tôi hay theo ba mẹ về quê ở "Cái Thia Cái Bè", miệt sông nước miền Tây để thăm ngoại.
Chạy gần cả ngày trời, chiếc xe đò lục tỉnh cặp bến ngoài khu phố chính. Từ đó chúng tôi đi xe lôi đến bến đò, rồi xuống ghe đi vào làng trong, nơi ngoại ở.

Ngoại tôi nhà ở ven sông
Có hàng dừa nước có đồng lúa xanh
Ngoại nghèo vách lá mái tranh
Về quê thăm ngoại, thăm làng, thăm quê


Theo lời mẹ tôi kể lại, ông ngoại tôi mất sớm lúc mẹ tôi và các cậu còn nhỏ. Bà ngoại tôi ngày ngày thức khuya dậy sớm, nấu chè xôi rồi gánh hàng đi bán dạo ngoài chợ để nuôi nấng mẹ tôi và các cậu.
Sau này tôi mới hiểu tại sao mỗi lần trong xóm, khi mẹ tôi nghe tiếng người bán hàng rong rao "Ai ăn chè đậu xanh nấu đường cát trắng hong..." là mẹ tôi hay bùi ngùi nhắc "Hồi trước bà ngoại cũng đi bán chè nuôi má như vậy đó con!"

 Ngoại tôi lặn lội bờ đê,
Hai vai gánh nặng tả tơi thân gầy
Bờ lau còn ngủ giấc say   
Ngoại tôi gánh cả sương mai trên trời...


Có một thời dưới quê loạn lạc, ngoại tôi cùng với bao nhiêu dân làng khác phải di tản chạy giặc, nhà cửa bị tiêu tán vì giặc giã.

 Quê tôi xa tít mù khơi,
Đồng xanh uốn khúc chơi vơi cánh diều.
Nhà tranh vách lá liêu xiêu
Giặc về đốt phá tiêu điều làng xưa



Rồi sau này khi chiến tranh bùng lên, có ông cậu đi lính tử thuơng ngoài chiến trường. Tôi nhớ kỳ đó, ngoại tôi ôm xác cậu tôi khóc mà chúng tôi cũng đằm đìa nước mắt. Lúc đó mặc dù còn nhỏ nhưng tôi thấy thuơng ngoại quá.
Tôi tự hỏi tại sao kiếp người dân quê Việt Nam mình phải khổ đến thế!?

  Quê nghèo sớm nắng chiều mưa,
Gió đồng cỏ nội, nếp dừa ven sông
Những ngày chinh chiến tang bồng
Nhà tan cửa nát, máu hồng tuôn rơi
 Ngoại tôi gian khổ cả đời,
Sao còn phải chịu cảnh đời tang thuơng!?


Những năm tháng thanh bình, tôi rất thích ở dưới quê. Ở đó tôi có dịp theo những đứa trẻ trong xóm đi thả thuyền, câu cá, bơi lội, nghịch bắt chuồn chuồn.
Có lần về quê vào mùa lũ lụt, có con bìm bịp nằm chết dưới mương trước nhà. Tôi tò mò thò tay xuống nước định vớt nó thì không biết từ đâu, một đàn cá lìm kìm, lòng tong cứ bám lấy tay tôi mà rỉa! Tôi sợ quá la lên "Ngoại ơi, cá lìm kìm cắn con ngoại ơi!" Ngoại tôi ở bên cạnh chỉ xoa đầu tôi cười!

  Những mùa mưa lũ ngập đường
Lìm kìm, cá, vịt đầy mương quanh nhà
 Sông quê mang nặng phù sa
Mang theo tình nghĩa đậm đà ngoại tôi!


Dần dà theo thời gian, khi tôi lớn lên thì ngoại tôi cũng già yếu đi nhiều.
Năm đó tôi về thăm ngoại một mình, và đó cũng là lần chót tôi còn có dịp gặp ngoại.

  Thời gian như nước sông trôi
Có lần trở lại bồi hồi nhớ quê,
 Nhớ từng hàng dậu bờ đê
Nhớ con đò nhỏ tôi về năm nao

Rồi có một buổi chiều buồn, ngoại tôi qua đời.
Đưa đám tang ngoại về, nhìn thấy khai trầu chén vôi trên bàn mà ngoại tôi hay ngồi ăn, lòng tôi bỗng thấy thắt lại.
Rồi mấy mươi năm sau, mẹ tôi cũng không còn nữa.

Làm khách tha hương xứ người, tôi không có dịp về thăm mồ mã ông bà cha mẹ mỗi năm. Nhưng mỗi lần ra chợ thấy cá lìm kìm, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ lại câu ca dao mà ngoại tôi đã ru mẹ tôi, và mẹ tôi đã ru cho tôi ngủ thuở nào.
Và chợt trong lòng, tôi không khỏi nhớ lại hình bóng bà ngoại hiền lương, người mẹ yêu dấu và cả quê nghèo hiền hòa của ngoại tôi ngày đó...

  Ầu ơ nhớ quá ca dao
Nhớ hình bóng ngoại mà đau trong lòng
 "Ngoại ơi con vịt chết chìm
Thò tay vớt nó, cá kìm cắn con" (ca dao)

  Giờ đây ngoại đã không còn,
Quê xưa cũng mất, chỉ còn nỗi đau!
 Lìm kìm cắn khúc ca dao
Mà sao mi nỡ cắn đau tim này!


Nguyễn Hà
Melbourne, 10 tháng 9, 2015

Và đây là trọn bài thơ "Ngoại ơi con vịt chết chìm!"

 Ngoại tôi nhà ở ven sông
Có hàng dừa nước có đồng lúa xanh
 Ngoại nghèo vách lá mái tranh
Về quê thăm ngoại, thăm làng, thăm quê

 Ngoại tôi lặn lội bờ đê,
Hai vai gánh nặng tả tơi thân gầy
 Bờ lau còn ngủ giấc say   
Ngoại tôi gánh cả sương mai trên trời...

  Quê tôi xa tít mù khơi,
Đồng xanh uốn khúc chơi vơi cánh diều.
  Nhà tranh vách lá liêu xiêu
Giặc về đốt phá tiêu điều làng xưa

  Quê nghèo sớm nắng chiều mưa,
Gió đồng cỏ nội, nếp dừa ven sông
  Những ngày chinh chiến tang bồng
Nhà tan cửa nát, máu hồng tuôn rơi
  Ngoại tôi gian khổ cả đời,
Sao còn phải chịu cảnh đời tang thuơng!?

Những mùa mưa lũ ngập đường
Lìm kìm, cá, vịt đầy mương quanh nhà
 Sông quê mang nặng phù sa
Mang theo tình nghĩa đậm đà ngoại tôi!

 Thời gian như nước sông trôi
Có lần trở lại bồi hồi nhớ quê,
 Nhớ từng hàng dậu bờ đê
Nhớ con đò nhỏ tôi về năm nao

 Ầu ơ nhớ quá ca dao
Nhớ hình bóng ngoại mà đau trong lòng
 "Ngoại ơi con vịt chết chìm
Thò tay vớt nó, cá kìm cắn con" (ca dao)

 Giờ đây ngoại đã không còn,
Quê xưa cũng mất chỉ còn nỗi đau,
 Lìm kìm cắn khúc ca dao
Mà sao mi nỡ cắn đau tim này!

Nguyễn Hà
Melbourne, 10 tháng 9, 2015

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Trần Thiện Thanh


Trần Thiện  Thanh , 40 năm  sáng tác và ca hát.

Lời người viết: Tháng 5/2005, khi hay tin cố Ca  Nhạc sĩ  Nhật Trường Trần thiện Thanh  qua  đời , nhiều nhà văn ,nhà báo và   bạn bè  đã  viết bài tưởng nhớ người qúa cố. Và gần đây nhất, trung tâm Asia đã  thực hiện DVD  số 50  với chủ đề  " Trần Thiện Thanh  Tình Yêu - Cuộc đời và  Sự nghiệp" để Vinh  danh  cố nhạc sĩ Trần thiện Thanh và cũng để vinh danh  Quân lực VNCH. Nhân dịp  sắp giỗ đầu  của Trần thiện Thanh ,người viết  muốn ghi lại  một số chi tiết từ  khi quen biết  vào năm 1967  cho   đến  lần gặp cuối cùng năm 2000 , coi như  thắp một nén  nhang tưởng nhớ  người bạn  văn nghệ.

                                                                                                    Nguyễn Tòan .

Một buổi  trưa, ngày  tháng nào  tôi không còn nhớ ,chỉ nhớ năm -1965. Sau khi  đi học về , tôi  mở radio nghe chương trình phát  thanh của đài Quân đội. Được nghe một  bản thông báo danh sách những người trúng tuyển vào làm việc tại Nha  Chiến tranh  Tâm lý sau này là Cục Tâm lý Chiến trực thuộc Tổng Cục Chiến tranh chính trị, có một người mang tên Trần thiện Thanh trúng tuyển  để  sáng tác nhạc  cho Đài Phát thanh Quân đội.

Trần thiện Thanh được mang cấp bậc  Trung sĩ  Đồng Hóa - cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 , để phục vụ tại  đài Tiếng  nói  Quân đội. Nơi  đây  đã có  sẵn  các nhạc sĩ  Nhật  Bằng,*Canh Thân*, Lê  Đô,  Nguyễn  văn Đức, Ngọc Bích*  và tay trống Văn Ích , sau này có thêm nam ca  sĩ Phượng Bằng.

Trong một lần về thăm  gìa  tôi , ông anh rể  Quản đốc đài Tiếng nói  Quân đội  đã cho tôi bản nhạc “ Không bao giờ  ngăn cách “  sáng tác  của Trần thiện  Thanh ,và  nhắc tôi chú  ý   nghe  bản nhạc này  với giọng ca của Nhật  Trường  tức Trần thiện Thanh .

“ Anh về …với em  rồi mai lại  đi
Đường xa …..mang theo bao nhiêu  tình ý
Viết tên người yêu lên ba     nặng trĩu
Đêm  quân hành  dừng chân đồi hoa tím
Nhớ  xưa   đôi mình hẹn nhau    sao sáng
Đâu bằng đôi mắt  em .
Chúng  mình  cách  xa    vẫn gần nhau
Tình  yêu  …..không  mau phai  màu áo
Dẫu  cho thời gian đem tâm tư vào nhớ
  rơi  gọi mùa thu  về  sân úa  ....
Vẫn  không bao  giờ  ...không bao giờ ngăn  cách  đâu em ....
Không bao  giờ  ...không bao  giờ ân tình lại vỡ  đôi
Một  người đi  nghe  thương sao  thương nhiều qúa
Dáng  một  người em xinh sao  qúa  xinh màu má
Không bao giờ  ....không  bao giờ  giữa mùa     tuyết rơi
Một  đời hoa  không khi nào  hai  lần nở
Trái mộng còn trinh nguyên  khi  đón anh trở  về  ....

(Không bao  giờ ngăn cách )

Đúng  một tuần lễ  sau , vào một  tối thứ bẩy, trong chương trình ca nhạc của  đài Quân đội, tôi được nghe  lần đầu tiếng hát của nam ca sĩ  Nhật Trường qua nhạc phẩm " Không bao giờ ngăn cách" của Trần thiện Thanh. Giọng hát của Nhật Trường thật  nồng ấm, trau chuốt và  là thần tượng của tôi  ngay sau khi nghe lần đầu tiên .

Chính vì vậy  mà nhà văn Hồ trường An  trong cuốn “Theo  chân  những tiếng hát" đã có nhận xét về nam ca    Nhật Trường như sau: “Sự  xuất  hiện của ca sĩ  Nhật Trường cũng khá  xao động . Anh đến từ Phan Thiết vào  tới Sàigon với giọng trau chuốt, nồng mặn , chỉ  trong một sớm một chiều trở thành đối thủ  lợi hại của Duy Khánh . Anh rất sáng sân khấu ,vóc  vạc khá  cao lớn . Khuôn mặt tuy hơi  thỏn , hàm răng  anh tuy hơi vẩu , hai cái đó  chỉ hơi hơi thôi, chì nhẹ phơn phớt  thôi , nhưng vẫn tạo cho anh  cái xinh đẹp bất ngờ . và  cũng  nhờ thần thái sáng mát, dù  trải qua  chặng đường thanh xuân khi khởi nghiệp ca hát ở chốn Hòn ngọc Viễn Đông , nhưng anh vẫn là thần tượng  của giới trẻ, là ông hoàng mộng tưởng của các cô nữ  sinh.

Gặp  Trần thiện Thanh  lần đầu .

Năm 1967, tôi  vào Quân đội, phục vụ tại Tiểu đoàn Tâm lý Chiến  nằm sát cạnh Cục Tâm Lý Chiến (Nha chiến tranh Tâm lý đã đổi tên ), do có thời gian rảnh rỗi , tôi thường xuyên sang bên  Đài Quân đội và báo  Tiền Tuyến  dể  gặp gỡ  một số  bạn bè  quen thân. Tại đài Quân đội, qua sự giới thiệu của ông anh rể, tôi được làm quen với nam ca sĩ  Nhật Trường tức  nhac sĩ Trần thiện Thanh . Để  rồi sau này tôi  quen thân với  anh nhiều hơn .  Mỗi lần  anh có sáng tác mới  nào cũng ký tặng tôi  bản đặc biệt, với chữ  ký. Nào là   “Đám cưới Đầu xuân, Đồn vắng chiều xuân, Lâu đài Tình ái, Bảy ngày đợi mong, Chuyện hẹn Hò , Đêm nay ai đưa em về , Tạ từ trong Đêm, Hoa trinh nữ  , Biển mặn, Hoa Biển  v..v.

Biến  cố Mậu thân  xẩy ra  ,  anh là  người vào trình diện đài sớm nhất vì  nhà  anh  ở bên Thị  nghè. Đài   phải  phát thanh  24/24  , nên  anh  đã   trở thành  xướng ngôn  bất đắc dĩ  của Đài. Dịp này  anh đã  sáng tác bản nhạc  "Chị Ba  Hàng xanh"  kể  lại gương can đảm  của  người  phụ nữ  đã  không sợ  Việt Cộng , Đã   can đảm dùng  dao  chém  đầu  một tên Việt Cộng , khi chúng tấn công vô  một trại gia binh ở Hàng Xanh Gia  Định.

Vào đầu  thập  niên 70, khi nền ca  nhạc  thăng hoa, nở rộ. Nhạc  sĩ Trần thiện Thanh có   chương  trình  nhạc "Tiếng hát  Đôi Mươi" trên Đài quân đội, cùng ban Tứ ca Nhật Trường   gồm  Nhật Trường , Như Thủy  (em ruột )  Mai  Hương , Quỳnh Giao.
Ngoài  ra  nhà  xuất bản  “:Tiếng hát  Đôi Mươi”   cũng  thành lập  để   chuyên  in các  sáng tác  của  chính anh    bạn bè.
Cùng  lúc đó  Nhật  Trường  thường xuất hiện   trên sân khấu  các chương trình Đại nhạc hội  . Và  một  chương trình Tivi Đặc biệt .

Phim nhạc kịch  trên Tivi .

  thể  nói  nhạc sĩ   Trần  thiện Thanh  , là   nhạc sĩ  đầu tiên   đã  thực hiện chương trình  “Phim Truyện  nhạc kịch trên Đài Tivi    số 9  .  Show  phim Truyện nhạc kịch  đầu tiên là "Tạ  từ  trong Đêm" với cặp song diễn Phương Dung - Nhật  Trường  .
Phim Truyện nhạc kịch "Tạ từ Trong Đêm" rất thành công  được quần chúng khán thính giả ái mộ  khi lần đầu  được trình chiếu trên Tivi . Nhiều người không được xem, đã viết thư yêu cầu Đài số  9  chiếu lại .

Sở dĩ phim Truyện  nhạc kịch  thành công là    nhạc sĩ  Trần thiện Thanh  đã viết thành một truyện phim     phân cảnh  đàng hòang như  một phim  chiếu ở  rạp .
Sau khi  những thước phim  đã  được quay , tự Trần thiện Thanh  chọn lọc, để lồng vàophần nhạc kịch  của  show  “Tiếng hát  đôi mươi “.
Cùng với bản nhạc “ Tạ từ  trong  đêm “ đã được chọn  là bài  Ca Hay nhất trong năm và nữ ca sĩ   Phương Dung đoạt giải giọng ca  nữ   trong năm 1965 .

Khi  chiến trận Hạ Lào  bùng nổ  với cuộc hành quân Lam sơn 719 , người  anh  hùng Mũ  đỏ  tên Nguyễn văn Đương  ,người bạn thân của  Trần thiện Thanh  hy sinh , đã làm nguồn cảm hứng   cho  Trần thiện Thanh  sáng tác ra nhạc phẩm nổi tiếng “ Anh không chết đâu Anh “. Để rồi , với  chính nhạc phẩm này , Trần thiện Thanh  đã dựng thành Show Phim Truyện Nhạc Kịch “ Anh không chết đâu anh “  cùng với sự  diễn xuất của nữ ca sĩ  Thanh Lan. Khi  show  Phim nhạc kịch  “Anh không chết đâu anh“ được phát hình, bao  nhiêu  nước mắt  của  khán gỉa  đã tuôn trào , để  thương cho  sự hy sinh cao đẹp  của  người hùng mũ  Đỏ  tên Đương . Và  cũng từ sau show đó , thì hầu như đi tới đâu, cũng đuợc nhiều  giới từ trẻ  tới gìa, đều thuộc lòng câu hát “Anh không chết đâu anh , người anh hùng Mũ  đỏ tên  Đương .”

Vào  năm 1972  , một  buổi chiều   giữa  tháng Tư,  tôi  gặp nhà  thơ Thiên Hà  tại Nhà  hàng Thanh Thế, anh đã  khoe tôi, anh vừa sáng tác  một bài thơ  mới ca ngợi cái chết  hào hùng của người bạn thân anh   Trung tá  Nhẩy dù  Nguyễn đình  Bảo  tại  đồi  Charlie, nghe anh  Thiên Hà  đọc xong bài thơ, tôi chưa hề  hình  dung nổi  ngọn đồi Charlie ra sao, nhưng  chỉ  vài ngày sau, tôi   được nghe bản nhạc “ Người  ở lại Charlie" một sáng tác mới  của  Trần thiện Thanh -  tôi  mới   được biết  tên một số  địa danh ở  Vùng 2 chiến thuật. Càng nghe  nhiều lần bản nhạc nói  trên, tôi  liền thương cảm cho  những người Chiến sĩ  của binh  chủng  Nhẩy dù  nơi  Tiền tuyến .

Sau bản nhạc nổi tiếng "Người ở lại Charlie", Trần thiện Thanh  còn sáng tác thêm nhạc phẩm "Chiều trên phá Tam Giang" phổ từ thơ  của nhà thơ Tô thùy  Yên , sau khi cả  hai  đã  ra  thăm  Quảng trị và  đã ghé thăm Phá tam Giang .

   sợ  VC tấn công vào  Thành phố  Sàigon    đánh bom các  Cao ốc    Cơ quan Chính phủ , bộ Chỉ huy  Biệt khu Thủ đô đã thiết lập các bộ Chỉ huy Đặc khu (tăng cường Quân sự cho  Cảnh sát ) ở  các  Các Quận  trong Nội thành. Do đó  các  đơn vị nào đồn trú   Quận nào, đều phải biệt phái Quân nhân  cho  Đặc khu. Ngoài ra còn có Đại đội  Dã chiến . Chính vì sự lưu  động, luân phiên , nên Trần thiện Thanh đã tạm thời  rời Đài phát Thanh Quân đội  tăng  phái  cho Đại  Đội  dã chiến . Chính vì  sự  gác cầu hay Cao Ốc mà Trần thiện Thanh đã   nguồn cảm hứng để  sáng tác  nên nhạc phẩm “ Tình Thư của Lính" .

Gặp Trần thiện Thanh  ở Cần Thơ và Little Sàigon .
Sau ngày 30 tháng 4, nhạc sĩ  Trần thiện Thanh bị  cấm hát, do đó  tôi  không còn được gặp  anh , chỉ  biết anh  thường  xuyên đi  xuống  Miền Tây  lưu diễn  hầu kiếm sống qua ngày. Trong một lần xuống thăm  thành phố  Cần Thơ năm 1985 , tình cờ tôi được gặp lại nhạc sĩ  Trần thiện Thanh ở chung khách sạn và tối hôm đó , nhạc sĩ Trần thiện Thanh  đã rủ tôi đi nghe anh  hát ở  ngoài rạp. Trước   một  số đông khán giả chật rạp , tôi  đã  được nghe Nhật Trường hát 2 sáng tác mới, sáng tác sau 75 đó là bản nhạc "Cho anh  xin số nhà" và "Chiếc áo  bà ba" cùng  với nữ ca sĩ  Kim Dung người vợ mới  của anh. Trong khi đó  đứa  con trai  nhỏ 1 tuổi  phải nằm trên võng đằng sau  hậu trường .

Cuộc gặp lại  tình cờ ở Cần thơ , sau đó, tưởng chừng tôi không bao giờ gặp lại người nhạc sĩ  tài hoa  này, nhưng  năm 2000 , nhân dịp ghé thăm Nam Cali, tôi đã gặp lại  nhạc sĩ Trần thiện Thanh, cả hai chúng tôi  gặp lại nhau  tại  cửa tiệm: "Trung tâm Âm nhạc do   Nhật Trường và bạn hữu chủ trương".

Trong cuộc gặp gỡ này , nhạc    Trần thiện Thanh cho biết: anh rất buồn  được biết ở  Úc , tệ nạn sang  băng Video  lậu  quá nhiều, làm  anh nản chí  không  thực hiệnVideo  Ca nhạc  do chính anh thực hiện. ( Khi ra   Hải ngoại năm 1993, nhạc sĩ  Trần thiện Thanh đã tự mình thực hiện một Băng Video cho chính Trung tâm Nhật Trường Phát hành ). Ngoài ra  anh  còn cho biết  anh rất thù ghét  Cộng Sản , chính  họ đã  giết
chết  thân phụ anh .
Trước khi chia tay, anh đã tặng tôi  cuốn  CD  - "Gọi tên Anh là Lính" đề  cao các  Vị Tướng  đã tuẫn tiết   vào ngày 30 tháng 4 /75 .Và không ngờ  , cuộc  gặp gỡ  năm 2000, là lần cuối  giữa tôi và anh để  5 năm  sau , anh đã  ra di  Vĩnh viễn   bệnh phổi  với tuổi đời 63 .

Nguyễn Toàn /Sydney